Tapjoy, mô hình kinh doanh thành công trên thị trường quảng cáo di động

Tapjoy là nền tảng cung cấp dịch vụ quảng cáo và kiếm tiền trên nền điện thoại động. Mô hình hoán đổi giá trị MVE (Mobile Value Exchange) của Tapjoy cho phép người dùng chọn lựa những quảng cáo thích hợp mà thông qua đó họ nhận lại được giá trị ảo (rewards) được sử dụng trong các trò chơi game trên điện thoại di động hoặc là để truy nhập vào các nội dung dành riêng.

Mô hình kinh doanh của Tapjoy

Khi bạn sử dụng một ứng dụng di động, ví dụ như chơi một game trên điện thoại di động, bạn có thể cài đặt một ứng dụng khác, xem một video quảng cáo hoặc click vào một đường dẫn quảng cáo để nhận được tiền thưởng ảo mà  được sử dụng trong game. Ví dụ, với lượng tiền ảo này bạn có thể mua công cụ/vũ khí tốt hơn mà nếu chơi bình thường bạn không có được.

Tapjoy đã làm thay đổi mô hình truyền thống trên thị trường game từ pay-to-play (trả tiền để được chơi) sang mô hình freemium (miễn phí có điều kiện). Freemium là mô hình kinh doanh nhắm đến quảng bá một sản phẩm hoặc dịch vụ bằng cách cung cấp miễn phí cho người dùng sản phẩm hay dịch vụ. Tuy nhiên ngườig dùng chỉ có thể sử dụng một số chức năng cơ bản. Để có thể sử dụng các chức năng hoặc dịch vụ cao cấp hơn thì họ phải mua bằng tiền thật hoặc tiền ảo nhận được từ việc chấp nhận xem quảng cáo. Read more

Bài viết liên quan

  • No related post

Giới thiệu sách về công nghệ LTE và LTE-Advanced

LTE là viết tắt của Long Term Evolution, là công nghệ di động thế hệ thứ 4, tiếp nối của dòng công nghệ GSM/GPRS/UMTS/HSPA chuẩn hóa bởi 3GPP. LTE là kiến trúc toàn-IP, sử dụng nhiều công nghệ tiến tiến như kỹ thuật đa truy nhập OFDMA, kỹ thuật angten MIMO… cho phép cung cấp tốc độ dữ liệu đường xuống tầm 100Mbps và đường lên tầm 50Mbps. Bên cạnh lợi thế nổi bật về tốc độ dữ liệu, đặc điểm khác phải kể đến là độ trễ trên mạng LTE nhỏ hơn nhiều so với mạng 3G, điều này sẽ giúp phát triển các dịch vụ tương tác như game, video conference, video broadcast…trên nền LTE. Các bạn quan tâm có thể xem lại topic “Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012” để biết thêm về bối cảnh triển khai mạng LTE trên thế giới hiện nay.

Tài liệu về LTE cũng có rất nhiều, nơi tập trung tất cả các thông tin chuẩn hóa mới nhất vẫn là trên trang web 3GPP. Ngoài ra cũng có rất nhiều sách về LTE. Ở đây tôi xin giới thiệu một số ebook về công nghệ LTE/LTE-Advanced tìm thấy trên mạng. Read more

Bài viết liên quan

Viettel thua trong chạy đua giành giấy phép di động tại Mali

Viettel Group subsidiary Viettel Global is hoping to follow up its overseas successes with a possible $273.3 million-telecommunications network project in Mali.

Viettel vẫn đang tiếp tục đầu tư ra thế giới và gần đây Viettel nhắm vào thị trường viễn thông ở Mali với hy vọng có được giấy phép triển khai mạng di động tại đây. Hiện tại Mali có 2 nhà khai thác mạng di động là Sotelma (của Maroc Telecom) và Orange Mali. Trong cuộc chạy đua này Viettel cược 16,5 triệu Euros bị bỏ xa bởi liên minh Planor và Monaco Telecom cược 84 triệu Euro. Bharti Airtel cũng không cạnh tranh nổi khi họ cược 30 triệu Euro.

Viettel vẫn đang tập trung đầu tư vào thị trường viễn thông Châu Phi. Viettel tiếp tục chạy đua để có giấy phép trở thành nhà khai thác mạng di động ở Cameroon hay Algeria.

Bài viết liên quan

  • No related post

Giải pháp thoại cho mạng LTE

LTE (Long Term Evolution) là một kiến trúc toàn IP được thiết kế để cung cấp dịch vụ dữ liệu Internet di động tốc độ cao. LTE không tương thích để kế thừa dịch vụ thoại trên nền chuyển mạch của mạng di động 2G/3G. Điều này trở thành một cản trở quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ vì nó ảnh hưởng đến 2 dịch vụ thoại + tin nhắn SMS mà mang lại hơn 80% doanh thu dịch vụ di động toàn cầu, và tính đến nay vẫn là dịch vụ có lợi nhuận cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ dịch vụ dữ liệu.

Tuy nhiên, tại sao lại phải cần một dịch vụ VoLTE trong khi ta hoàn toàn có thể dùng giải pháp VoIP trên nền dữ liệu giống như các dịch vụ thoại VoIP cung cấp bởi các OTT (over the top) như Skype, GTalk v.v. Nếu dùng dịch vụ VoIP như thế các nhà khai thác dịch vụ không chắc sẽ có khả năng cạnh tranh được với các OTT và hơn nữa họ không khai thác được thế mạnh về khả năng quản lý hạ tầng mạng cũng như quản lý chất lượng dịch vụ. Do vậy giải pháp VoIP OTT không được các nhà cung cấp dịch vụ hưởng ứng.

VoLTE2 Giải pháp thoại cho mạng LTE1/ VoLTE là gì ?

VoLTE (Voice over LTE) là giải pháp công nghệ được hiệp hội GSMA đưa ra từ đầu năm 2010 và tương thích với bộ chuẩn 3GPP để cung cấp giải pháp thoại và tin nhắn SMS qua mạng LTE. Tiền thân của VoLTE là giải pháp One Voice được phát triển với sự hợp tác của hơn 40 nhà khai thác mạng và nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn trên thế giới như AT&T, Verizon Wireless, Nokia hay Alcatel-Lucent. Read more

Bài viết liên quan

RCS-e – Bộ truyền thông phong phú cải tiến

RCS-e (Rich Communication Suite-enhanced) hay bộ giải pháp dịch vụ truyền thông phong phú cải tiến là làn sóng mới trong dịch vụ truyền thông di động. Đối với người dùng, giải pháp này hứa hẹn cung cấp một trải nghiệm dịch vụ mới bằng cách cung cấp, bên cạnh dịch vụ thoại và SMS truyền thống, dịch vụ tin nhắn tức thời IM (chat), chia sẻ video trực tiếp và trao đổi file trên bất kỳ thiết bị điện thoại đầu cuối nào, trên bất kỳ mạng nào, với bất cứ ai trong sổ địa chỉ trong điện thoại di động của họ. RCS-e cải tiến cách mà người tiêu dùng đã và đang chia sẻ những khoảnh khắc cuộc sống của họ với bạn bè và người thân.

Đâu là sự khác nhau giữa RCS-e và RCS?

RCS vs RCS e RCS e    Bộ truyền thông phong phú cải tiến

Sự khác nhau giữa RCS-e và RCS

Read more

Bài viết liên quan

Giải pháp IP RAN trong mạng 3G

“IP RAN” (IP in Radio Access Network) là thuật ngữ dùng để chỉ việc dùng truyền tải IP (Internet Protocol) trong mạng truy cập vô tuyến 3G UMTS. Ngoài giao diện vô tuyến giữa thiết bị đầu cuối và trạm phát sóng nodeB, mạng truy nhập vô tuyến 3G (UTRAN) bao gồm các giao diện hữu tuyến Iub (kết nối giữa NodeB và RNC), Iu-PS (kếtt nối giữa RNC và SGSN), Iu-CS (kết nối giữa RNC và MSC) và Iur (kết nối giữa các RCN với nhau). Khởi đầu của mạng 3G, với Release 99, giao thức AAL2/ATM đã được sử dụng để truyền tải dữ liệu và báo hiệu trên các giao diện Iub, Iu-PS, Iu-CS và Iur.

UMTS interface Giải pháp IP RAN trong mạng 3G

Kiến trúc mạng 3G UMTS với các giao diện

Ý tưởng sử dụng giao thức IP trên các giao diện Iub, Iu-PS, Iu-CS và Iur là một bước để tiến đến mô hình kiến trúc mạng toàn IP. Được khẳng định như là một công nghệ kết nối tương vận hiệu quả, đồng thời với việc sử dụng thành công công nghệ IP trong mạng lõi 3G, bắt đầu từ Release 5, 3GPP (3rd Generation Partnership Project) đã mở đường cho việc dùng công nghệ IP trong mạng UTRAN.

Mặc dù công nghệ IP RAN đã được đề nghị từ năm 2002, nhưng phải đợi đến năm 2007 thì chúng ta mới thấy các nhà mạng bắt đầu sử dụng IP RAN. Tại sao các nhà mạng lại cần đến IP RAN ? Read more

Bài viết liên quan

Tixel: công nghệ màn hình cảm ứng xúc giác

senseg tixelQ E 318470 3 Tixel: công nghệ màn hình cảm ứng xúc giác

Công nghệ Tixel

Senseg, một công ty của Phần Lan, đã phát minh ra màn hình cảm ứng xúc giác cho phép người dùng có cảm giác như đang sờ tay trên các bề mặt vật liệu thực. Công nghệ này được gọi là Tixel (Tactile Pixel)

Cố gắng để thêm chất xúc giác vào màn hình cảm ứng là không có gì mới. Trong thực tế, một số công nghệ dựa trên công nghệ haptic đã được phát triển trong nhiều năm qua. Sự khác biệt ở đây là phương pháp tiếp cận. Trong khi hầu hết các công nghệ màn hình cảm ứng xúc giác hiện tại  dựa chủ yếu vào sự rung động (vibration), công nghệ E-Sense có cách tiếp cận ngược lại. Thay vì kích thích thiết bị để phản hồi bên dưới màn hình, E-sense kích thích các ngón tay trên màn hình với việc sử dụng các trường điện từ.

Haptics là một từ gốc Hy Lạp để chỉ cảm giác xúc giác (sense of touch). Haptic bao gồm bao gồm lực tác động (cứng, mềm), cảm giác về bề mặt (thô, nhám, sắc, trơn…), cảm giác về chuyển động mà con người có thể cảm nhận thông qua tiếp xúc, cầm, nắm, sờ…. Công nghệ Haptics là công nghệ tái tạo lại các cảm giác xúc giác đó, với mức độ chân thực và chi tiết khác nhau, nhằm tái tạo lại toàn bộ hay một phần cảm giác xúc giác của con người khi tiếp xúc với thiết bị.

Read more

Bài viết liên quan

  • No related post

Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012

Tính đến  05/01/2012, đã có 49 nhà mạng đã triển khai và cung cấp dịch vụ dị động 4G LTE.  Cụ thể, năm 2009 có 2 nhà cung cấp dịch vụ LTE đầu tiên là TeliaSonera ở Na-uy và Thụy Điển. Năm 2010 có 15 nhà cung cấp dịch vụ LTE. Năm 2011 có thêm 29 nhà mạng LTE. Đầu năm 2012, 3 nhà mạng  cung cấp dịch vụ LTE mới là Viva Bahrain, T-Mobile Hungary và KT Hàn Quốc.

Tổ chức GSA dự báo từ nay đến cuối năm 2012 sẽ có 110 nhà cung cấp dịch vụ LTE trên hơn 50 nước trên thế giới. Năm 2012 hứa hẹn là năm của công nghệ LTE.

LTE map Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012

Bản đồ LTE trên thế giới (nguồn GSA, january 2012)

Tuy TeliaSonera là nhà mạng triển khai và cung cấp dịch vụ LTE đầu tiên từ cuối 2009, tính đến nay họ chỉ mới có hơn 5000 người thuê bao dịch vụ này ở Thụy Điển. Trong số các nhà mạng LTE, với 3,1 triệu thuê bao, Verizon USA đứng đầu trong bảng xếp hạng các nhà mạng có nhiều thuê bao LTE nhất. Kế đến là NTT DoCoMo Nhật Bản với hơn 388 ngàn thuê bao. Ở Châu Âu, nhà mạng có nhiều thuê bao LTE nhất là Vodafone D2 ở Đức với 52 ngàn thuê bao. Read more

Bài viết liên quan

Smart Grid là gì?

Smart Grid, tiếng Việt gọi là lưới điện thông minh, là một  giải pháp quản lý thông minh việc sử dụng điện, từ khâu sản xuất, truyền dẫn, phân bố đến người tiêu thụ điện dựa trên cơ sở của các tiến bộ công nghệ thông tin và truyền dẫn băng rộng.

Lợi ích của smart grid

  • Đối với người dùng, lưới điện thông minh sẽ giúp họ tối ưu hóa và tiết kiêm năng lượng điện tiêu thụ, đồng nghĩa với việc giảm chi phí điện hàng tháng nhờ vào khả năng đo lường lượng điện tiêu thụ hàng ngày.
  • Đối với các công ty điện lực, lưới điện thông minh sẽ giúp họ quản lý mạng lưới điện tốt hơn, cải thiện độ tin cậy của hệ thống và giảm thiểu tổn thất điện năng.

Smart Grid là gì?

Ở đây tôi muốn giới thiệu với các bạn một video của IBM giải thích cho trẻ con về smart grid (lưới điện thông minh).

Smart Grid, cơ hội dành cho các telco ?

Người ta dự đoán rằng thị trường lưới điện thông minh vào năm 2014 sẽ đạt 42 tỷ USD trên toàn thế giới, trong đó riêng thị trường Châu Âu sẽ chiếm 13 tỷ USD. Read more

Bài viết liên quan

Telco vs. OTT : chiến lược nào cho các telco ?

Kể từ khi ra mắt iPhone đầu tiên trong năm 2007, Internet di động đã đi vào cuộc sống hàng ngày của nhiều người và nó đã tạo ra một trật tự thế giới mới trong ngành công nghiệp viễn thông, truyền thông và công nghệ. Apple, Google và Facebook đang vươn lên đứng đầu trong trật tự đó, đẩy sang một bên một số công ty viễn thông lớn nhất thế giới, các nhà sản xuất thiết bị và công ty truyền thông. Bộ ba này, cùng với Amazon, Skype (Microsoft), đang làm thay đổi một cách cơ bản các thói quen của người tiêu dùng và tháo dỡ các chuỗi giá trị lâu đời của ngành viễn thông, truyền thông và công nghệ. Họ chính là các nhà cung cấp nội dung trên nền mạng viễn thông (gọi tắt là các OTT = Over-the-top). Họ đang khơi mở những thị trường mới và xây dựng các hệ sinh thái mới. Bên cạnh đó ta có thể kể đến các OTT khác như Netflix, Hulu, v.v.

Bất chấp sự tăng trưởng doanh thu trong ngành công nghiệp  điện thoại di động (đặc biệt là thị trường smart phone) trong vài năm qua, doanh thu của công nghệ truyền thông bắt đầu ngập ngừng bởi vì thị trường dịch vụ thoại ở các nước đang phát triển đã và đang dần bão hòa. Doanh thu về bán nội dung và bán đường truyền kết nối của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (gọi tắt là telco = telecommunications company) đang theo chiều hướng suy giảm. Làm thế nào để các telco phát triển trong những năm tiếp theo? Chiến lược nào các nhà cung cấp dịch vụ cần phải theo đuổi trước sự lấn lướt và lớn mạnh của các OTT?

Ngày nay, dịch vụ truyền thông  được phân ra hai hình thức: các dịch vụ trực tuyến (VoIP, P2P, mạng xã hội, e-mail, IM, Blog, diễn đàn, wiki và nhiều hơn nữa) và dịch vụ viễn thông (điện thoại cố định và dịch vụ điện thoại di động, tin nhắn SMS, tin nhắn đa phương tiện). Tại các thị trường tiên tiến nhìn tổng thể số phút gọi đi từ mạng viễn thông truyền thống vẫn còn tương đối ổn định. Tuy nhiên, truyền thông OTT so với cùng kỳ, bao gồm cả VoIP, P2P và tin nhắn tức thời IM, tăng 211%. Read more

Bài viết liên quan

Follow

Get every new post delivered to your Inbox

Join other followers: